Danh mục sản phẩm
Đăng nhập
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Hỗ trợ Online
Call me!
Hỗ trợ Online
Hotline
19006175
Nấm linh chi
Xem tin tức

Tác dụng chữa bệnh của Khổ qua

Khổ Qua - Vị thuốc quý.

Ở miền Nam, trong những ngày đầu năm, ngoài Ngũ Quả (Mãng Cầu, Dừa, Đu đủ, Xoài, Sung) mang y nghĩa chỉ xin cho được vừa đủ xài. Còn có một quả cũng thường được dùng, đặc biệt trong  các bữa ăn, đó là trái Khổ Qua. Theo Hán ngữ, Khổ nghĩa là đắng, Qua là một loại trái. Ngoài ra còn có những từ như Tây Qua (Dưa hấu), Đông qua (Bí Đao), Nam Qua (Bí Ngô)... Quả này có vị đắng nên được gọi là Khổ Qua (Khổ = Vị đắng; Qua = Trái dưa). Dân gian cũng dựa vào tính chất đắng của trái có hình thể giống như trái mướp này mà gọi là Mướp Đắng.

Xét về mặt thực phẩm, trái này rất đắng, không phải là loại trái dùng để ăn vào dịp đầu năm. Về hình dáng xù xì, không xứng đáng để trưng bày. Thế nhưng nó lại được chọn để dùng trong bữa ăn dịp đầu năm. Phải chăng nó có một ý nghĩa nào khác? Chúng tôi nghĩ rằng có lẽ người ta chọn trái cây này là có ý muốn cho cái khốn khổ, bất hạnh của năm cũ sẽ qua đi, mong được đón nhận hạnh phúc, sung sướng năm mới sẽ đem đến. Đây cũng là cách chơi chữ đồng âm của người Việt Nam, gần giống như cách dùng Xoài = Xài, Dừa = Vừa, Đu đủ = Đủ, Mãng Cầu = Cầu...

Tuy nhiên, vị Khổ qua, không chỉ đơn thuần là một loại quả chỉ dùng để nhồi thịt rồi nấu ăn như dân gian quen làm mà Khổ qua còn là vị thuốc rất quý. Từ Rễ, Dây, Lá, Hoa, Quả, Hạt đều là những vị thuốc rất tốt.

Khổ Qua có tên khoa học là Momordica charantia L., thuộc họ Bầu bí (Cucurbitaceae).

Khổ qua còn được gọi là Cẩm lệ chi, Lại Bồ Đào (Cứu Mang bản thảo), Hồng cô nương (Quân phương phổ), Lương qua, Man lệ chi (Quảng Châu thực vật chí), Lại qua (Dân gian thường dụng thảo dược hối biên), Hồng dương (Tuyên Châu bản thảo), Mướp Đắng (Việt Nam).

MÔ TẢ: Đây là loại dây leo bằng tua cuốn, thân có cạnh. Lá mọc so le, dài 5 - 10cm, rộng 4 - 8cm, phiến lá chia làm 5 - 7 thùy, hình trứng, mép khía răng. Mặt dưới lá màu nhạt hơn mặt trên, gân lá có lông ngắn. Hoa đực và hoa cái mọc riêng ở nách lá, có cuống dài. Cánh hoa màu vàng nhạt. Quả hình thoi, dài 8 - 15cm, mặt ngoài có nhiều u lồi. Quả chưa chín có màu vàng xanh, khi chín màu vàng hồng. Hạt dẹp, dài 13 - 15mm, rộng 7 - 8mm, trông gần giông hạt Bí ngô. Quanh hạt có màng đỏ bao quanh (giống như màng hạt Gấc).

Trồng khắp nơi. Mùa thu hái quả vào các tháng 5, 6, 7.

BỘ PHẬN DÙNG: Quả, hoa, rễ. Dùng làm thuốc thường chọn quả vàng lục. Nếu dùng hạt thì lấy ở những quả chín, phơi khô.

Theo Đông y, Khổ qua vị đắng, tính hàn, không độc. 

THÀNH PHẦN HÓA HỌC: Trong quả Khổ qua có Charantin, -Sitosterrol-D-glucoside và 5,25-Stigmastadien-3-D-glucoside (Trung dược đại từ điển).

Trong quả có tinh dầu rất thơm, Glucosid, Saponin và Alcaloid Momoridicin. Còn có các vitamin B1, C, Caroten, Adenin, Betain, Các enzyme tiêu protein. Hạt chứa dầu và chất đắng (Từ điển cây thuốc Việt Nam).

Quả chứa Glycosid đắng là Momordicin, Vitamin B1, C, Adenin, Betain. Hạt có chất keo (Dược liệu Việt Nam).

100g quả Mướp đăng sinh 20 calori, có thành phần 1g Protein, 4,7g Glucid, 15mg Phosphor, 392mg Kali, 13mg Calci, 23mg Magnesi, 0,5mg Sắt, 0,3mg Mangan, 210 UI Caroten, 0,5mg Nicotiamid, 92mg Vitamin C - Như vậy Khổ Qua là loại thức ăn nghèo các chất sinh tố, chất khoáng.

TÁC DỤNG DƯỢC LÝ: 

Theo Vân Nam trung dược thảo và Trung Dược đại từ điển (Giang tô xuất bản 1999), Khổ qua cho những vị thuốc sau:

Rễ: Thanh nhiệt, giải độc. Trị kiết lỵ, tiêu ra máu, nhọt độc lở loét, răng đau do phong hỏa.

Dây: Thanh nhiệt, giải độc. Trị kiết lỵ, mụn nhọt, răng đau.

Lá: Trị đau dạ dày, kiết lỵ, mụn nhọt lở loét.

Hoa: Trị kiết lỵ.

Hạt: Ích khí, trợ dương.

Quả: Thanh thử, sáng mắt, giải độc. Trị trúng nắng phát sốt, đau răng, viêm ruột, kiết lỵ.

TÁC DỤNG: 

Tả thực hỏa ở 6 kinh, thanh thử ích khí, chỉ khát. Trị đơn hỏa độc khí, mụn nhọt kế độc (Trấn Nam bản thảo).

Trừ nhiệt tà, giải lao, thanh tâm, minh mục (Sinh sinh biên).

Trừ nhiệt, giải phiền (Bản thảo cầu chân).

Còn sống thì trừ nhiệt, minh mục, thanh tâm. Nấu chín thì dưỡng huyết, tư can, nhuận tỳ, bổ thận (Tùy cức cư ẩm thực phổ).

Trị phiền nhiệt, tiêu khát, phong nhiệt làm cho mắt đỏ, trúng thử, hạ lỵ (Tuyên Châu bản thảo).

Những nghiên cứu gần đây cho thấy: Quả Khổ qua có thể trị Tiểu đường: 

Theo India J. Medicine Research 1960, Sharma V.N, Shogami R.K dùng dịch chiết của quả Mướp đắng thử nghiệm ở chuột bình thường và chuột bị gây bệnh tiểu đường nhân tạo bằng Alloxan thấy có tác dụng hạ Glucose huyết.

Năm 1962, Krishnamurrty T.R dùng dịch chiết của quả Mướp đắng thử nghiệm trên thỏ và chó cũng thấy có tác dụng hạ Glucose huyết.

Năm 1990, Carolin Day, Cartwigh cũng thí nghiệm và chứng minh rằng dịch chiết quả Mướp Đắng làm hạ lượng Glucose huyết ở chuột bình thường trong khi đó phản ứng với Isulin không thay đổi (Planta Medica 1990).

Tại đại học Calcutta (Ấn Độ), các nhà nghiên cứu đã thử nghiệm với 6 bệnh nhân tiểu đường tuyp II, uống mỗi ngày một lần 100ml nước sắc khổ qua tươi. Kết quả: Sau 3 tuần, glucose huyết giảm 54%, sau 7 tuần, glucose huyết trở lại bình thường.

Ngoài ra, Đại học Kansas cho thấy quả Mướp đắng có chứa Glucosid Momordicin, có tác dụng kháng khuẩn, kháng virus, tăng khả năng miễn dịch, chống lại các loại virus, kể cả viêm gan siêu vi, HIV. Điều đặc biệt là chất này chỉ tác động lên tế bào bệnh, không tác động lên tế bào lành.

Các nhà nghiên cứu đều thống nhất là Khổ qua dùng tươi có hiệu quả hơn là phơi khô.

HẠT KHỔ QUA:

Năm 1994, Rybak S.M cho biết hạt Mướp đắng có khả năng chống lại một vài tế bào ung thư.

Năm 1995, Các nhà nghiên cứu cho biết: Hạt vừa chín tới, có 1 loại protein, tên là MAP 30 có khả năng chống virus HIV. Và vì vậy hạt mướp đắng được dùng chống HIV và Herpes.

Các nhà nghiên cứu cho rằng: Hạt Mướp đắng không độc đối với tế bào thường vì nó không xâm nhập vào tế bào khỏe mạnh.

Kiêng kỵ: Người tỳ vị hư hàn, ăn Khổ qua sẽ bị thổ tả, bụng đau (Trấn Nam bản thảo).

ĐƠN THUỐC KINH NGHIỆM: 

Trị trúng thử phát sốt: Khổ qua sống 1 quả, khoét bỏ ruột. Cho trà (chè) vào, phơi trong bóng râm cho khô. Mỗi lần dùng 8 - 12g sắc uống thay nước tra (Phúc Kiến trung thảo dược).

Trị phiền nhiệt, miệng khô: Khổ qua bỏ ruột, thái ra, sắc uống (Phúc Kiến trung thảo dược).

Trị lỵ: Khổ qua tươi nghiền nát, ép lấy 1 bát nước cốt uống (Phúc Kiến trung thảo dược).

Trị đau mắt: Khổ qua, cắt ra, ăn, uống thêm nước sắc Đăng tâm (Trấn Nam bản thảo).

Trị mụn nhọt: Khổ qua tươi, nghiền nát, đắp bên ngoài da (Tuyền Châu bản thảo).

Trị rôm sẩy: Lá Khổ qua tươi, nấu lấy nước tắm, ngày 3 - 4 lần (Trung Quốc dân gian bách thảo lương phương).

KHỔ QUA TRONG THỰC DƯỠNG: 

Người dân Nam bộ rất khéo léo trong việc chế biến Khổ qua, chúng tôi giới thiệu một vài cách chế biến có thể dùng trong y học: 

Mướp đắng xào trứng:

Lựa trái Mướp đắng vừa chín tới, hơi xanh vàng, rửa sạch, khoét bỏ hột, luộc sôi (cho bớt đắng), với Mướp đắng ra, cắt thành từng miếng nhỏ, cho vào chảo, cho trứng vào, xào chung. Nếu người nào quen vị đắng của Mướp đắng thì lấy Mướp đắng rửa sạch, bỏ hột, thái mỏng, xào chung với trứng. Đối với người béo mập, tiểu đường, Cholesterol cao, mỡ máu cao... chỉ nên dùng lòng trắng trứng, vì lòng đỏ trứng chứa khá nhiều Cholesterol. Món ăn này rất thích hợp cho người tiểu đường vì nó cung cấp ít chất bột.

Mướp đắng nhồi thịt:

Rửa sạch Mướp đắng, xẻ một đường từ trên xuống dưới, bỏ hột. Thịt nạc băm, nhét vào trong bụng Mướp đắng, dùng chỉ buộc  lại cho thịt khỏi bị bung ra. Đun sôi chín, rồi ăn. Những người sợ đắng, đem luộc Mướp đắng trước, đổ nước luộc đi, Lấy thịt nạc băm nhồi vào mướp đắng, cho nước mới vào, nấu thành canh ăn. Bài này thích hợp với người tiểu đường vì Mướp đắng bổ âm, thanh nhiệt (Rất cần để trị chứng Tiêu khát của Đông y), cộng với thịt là protein, một chất cần thiết cho thực đơn của người bị tiểu đường.

Nộm Mướp đắng:

Mướp đắng rửa sạch, thái nhỏ, ngâm với ít muối khoảng 1/2 giờ, sau đó, thêm Tôm, Thịt Nạc, ít dấm, trộn đều, sau cùng rắc Mè đen lên, sẽ có một món nộm rất ngon, đủ mọi mùi vị: Đắng, chua, mặn. Nếu muốn cay, cho thêm ít ớt. Món nộm này cũng rất hợp cho người tiểu đường vì Mướp đắng thanh nhiệt, giải khát; Thịt nạc, Tôm cung cấp Protein, Mè đen dưỡng âm, nhuận trường...

Mướp đắng muối chua:

Chế biến giống như cách làm muối Dưa cải chua. Món ăn này có hai lợi ích cho người tiểu đường: Tăng vị chua, giảm bớt vị đắng nhưng vẫn giữ được tác dụng thanh nhiệt, giải khát; Vị chua (Theo Đông y) có tác dụng thu liễm, sẽ giúp làm giảm bớt 3 trạng thái tiêu khát của Đông y là ăn nhiều, uống nhiều và tiểu nhiều.

Mướp đắng chưng tương hột: 

Mướp đắng để thanh nhiệt giải khát, Tương hột làm từ đậu nành, có tác dụng ức chế Cholesterol, dành cho người tiểu đường kèm Cholesterol cao.

Nước ép quả Mướp đắng tươi:

60 -100ml, chia làm 2 - 3 lân uống trong ngày. Có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, kích thích tiêu hóa. Thích hợp với không khí nóng, oi bức của ngày Tết, đồng thời góp phần giải quyết những ì ạch trong bụng do tiêu thụ quá nhiều lượng thịt, các chất mỡ béo trong những ngày đầu xuân.

Ước mong trái Mướp đắng sẽ làm quên đi những nỗi khổ trong những ngày tháng qua, xứng đáng với tên gọi của vị thuốc này.

Lương y Hoàng Anh Tuấn.

 



Trung tâm tư vấn sức khỏe, các sản phẩm đông dược, dinh dưỡng cho bạn và gia đình:  

1900 6175

 

 


Mọi người hãy:

 

  1. Khám sức khỏe định kỳ ít nhất 6 tháng 1 lần.
  2. - Hạn chế các thức uống kích thích, đồ uống có cồn như cà phê, rượu, bia...
- Không nên hút thuốc lá.
- Thường xuyên tập thể dục, thể thao rèn luyện cơ thể.
- Thực hiện chế độ dinh dưỡng khoa học, hợp lý với nhu cầu công việc.